Truy cập nội dung luôn
Quay lại

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHỰA THẢI – TRÁCH NHIỆM TOÀN CẦU VÀ LỜI GIẢI CỦA VIỆT NAM

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHỰA THẢI – TRÁCH NHIỆM TOÀN CẦU VÀ LỜI GIẢI CỦA VIỆT NAM

Nhựa là một nhóm rất đa dạng vật liệu được tổng hợp chủ yếu từ các sản phẩm hóa dầu và được sử dụng trong vô vàn vật dụng hàng ngày cũng như trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, giao thông v.v. Do tính đa năng khó thay thế (như nhẹ, chống cháy, chống ăn mòn, chịu axit/kiềm, chống nước, đa dạng về kiểu dáng, v.v.), nhựa là một vật liệu đã, đang và sẽ thay thế nhiều vật liệu truyền thống, kể cả kim loại và phi kim.

Theo Hiệp hội nhựa Châu Âu, tổng khối lượng các sản phẩm nhựa trên toàn thế giới đã tăng từ 1.5 triệu tấn năm 1950 đến 348 triệu tấn năm 2017 và dự kiến vượt mốc 1 tỷ tấn vào năm 2050 với tốc độ sản xuất và tiêu dùng hiện nay. Ở Việt Nam, theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam, lượng nhựa tiêu dùng bình quân trên đầu người đã đạt mức trung bình của thế giới vào năm 2016 (gần 48 kg/người/năm), trong khi năm 1993 mới chỉ đạt trung bình 3.9 kg/người/năm, cho thấy tốc độ tiêu thụ loại vật liệu này đang gia tăng nhanh chóng.

Sự gia tăng sản xuất và tiêu dùng sản phẩm nhựa dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng chất thải nhựa trên toàn cầu. Laurent Lebreton và Anthony Andrany ước tính vào năm 2015, có khoảng 162 triệu tấn nhựa các loại được thải bỏ trên toàn thế giới. Trong số đó, ước tính chỉ có 16-19.5% tổng lượng nhựa phát thải được tái chế trên toàn thế giới, phần còn lại bị thiêu hủy (25-25.5%), chôn lấp hoặc thải bỏ tự do (55-59%). Các hình thức chôn lấp không kiểm soát và thải bỏ tự do là nguyên nhân chủ yếu phát sinh chất thải nhựa đổ vào đại dương. Không có một số liệu chính thức cụ thể nào được đưa ra về lượng nhựa thải này, nhưng theo Jenna Jambeck (2015), mỗi năm có từ 5.3 – 14 triệu tấn nhựa được thải vào đại dương. Theo Eriksen và nhóm nghiên cứu (2014), có từ 150 - 270 triệu tấn nhựa (tương đương 5 ngàn tỷ mảnh nhựa các kích thước) đang trôi nổi trong lòng các đại dương. Tới 2050, lượng nhựa trong các đại dương được dự báo sẽ vượt qua lượng cá với tốc độ thải bỏ như hiện nay.

Trên một khía cạnh khác, nhựa thải lại được xếp là một trong các vấn đề môi trường toàn cầu đáng báo động, liên quan đến sự khó phân hủy của chúng trong môi trường, và các thành phần nguy hại phát sinh khi xử lý bằng các phương pháp thông thường. Nhựa, khi được thải bỏ tự do sẽ dần dần phân rã thành các mảnh từ lớn đến rất nhỏ, di chuyển linh động trong môi trường, làm giảm chất lượng môi trường, đặc biệt là môi trường biển và hệ sinh thái biển. Các sản phẩm phân hủy của nhựa, đặc biệt là hạt vi nhựa (kích thước rất bé mà mắt thường không nhìn thấy) và các hóa chất độc hại có thể đi vào chuỗi thức ăn, tích lũy lâu dài trong cơ thể gây nên các tác động tiêu cực đến sức khỏe con người. Nếu bị đốt hoặc xử lý nhiệt thiếu kiểm soát, nhựa thải cháy tạo ra hơi khí độc tác động trực tiếp đến hệ hô hấp, bề mặt da của con người và làm ô nhiễm môi trường không khí.

Các số liệu cho thấy rằng, tại Việt Nam, lượng nhựa thải được thu gom đưa đi tái chế chỉ đạt 10-15% tổng lượng phát sinh, thấp hơn nhiều con số nhựa phế liệu được nhập khẩu về Việt Nam phục vụ sản xuất. Đặc biệt với nhôm nhựa bao gói và các sản phẩm nhựa dùng 1 lần là nhóm sản phẩm có tuổi thọ sử dụng ngắn nhất, trung bình dưới 6 tháng, có tỷ lệ thải bỏ cao nhất, nhưng tỷ lệ thu gom và xử lý thấp nhất do kích thước nhỏ và phân tán, giá trị thu hồi không cao nên không được tái chế. Do vậy, dòng chất thải này chủ yếu đi vào trong các bãi chôn lấp và các lò đốt chất thải sinh hoạt hoặc được thải bỏ bừa bãi ra môi trường. Đây cũng là nguyên nhân chủ yếu đưa Việt Nam trở thanh một trong các quốc gia thải nhiều chất thải nhựa ra đại dương, theo thống kê của Liên hiệp quốc.

Là một vấn đề môi trường toàn cầu, nhựa thải đang nhận được sự chú ý không chỉ từ các nhà quản lý, mà còn từ các nhà khoa học, các nhà sản xuất và cả sự quan tâm của cộng đồng. Các giải pháp xử lý chất thải nhựa hiện nay đang tập trung vào việc thu hồi vật liệu (tái chế hạt nhựa, sản xuất vật liệu thay thế như xơ sợi PE, hóa chất monome, sản xuất phụ gia trong công nghệ vật liệu và kết cấu xây dựng, thảm đường, v.v.), thu hồi năng lượng (đốt phát điện, sản xuất viên nhiên liệu cho các lò đốt, nhiệt phân sản xuất khí nhẹ và dầu nặng) và xử lý (chôn lấp, đốt). Các giải pháp này đã được nghiên cứu, phát triển và ứng dụng rộng rãi nhưng chủ yếu chỉ tại các quốc gia phát triển. Tại Việt Nam, các công nghệ tái chế hạt nhựa từ phế liệu khá phổ biến, nhưng công nghệ thường đơn giản, cho chất lượng sản phẩm thấp nếu phế liệu không sạch, dễ gây ô nhiễm môi trường. Các công nghệ tái sử dụng nhựa phế liệu sản xuất vật liệu khác như xơ sợi PE, nhiệt phân sản xuất dầu nặng cũng đã được áp dụng nhưng quy mô còn nhỏ.

Nhận thức được các tác động tiêu cực của chất thải nhựa, Chính phủ Việt Nam sớm đã có các thông điệp hành động và đã triển khai các kế hoạch hành động giảm thiểu phát thải chất thải nhựa, trong đó có việc phê duyệt Đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020 (Quyết định số 582/2013/QĐ-TTg) và điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 491/2018/QĐ-TTg ngày 07/5/2018) trong đó có đề cập đến chất thải nhựa. Tuy nhiên cho đến nay, hiệu quả của các hoạt động này vẫn còn chưa rõ ràng, đặc biệt là đối với nhóm sản phẩm nhựa dùng 1 lần, bởi cho đến nay, vẫn chưa có các vật liệu phù hợp thay thế, kể cả với loại nhựa phân hủy sinh học đang được khuyến khích phát triển.

Để có thể ngăn ngừa tác động tiêu cực của nhựa thải đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, thực hiện trách nhiệm xã hội và trách nhiệm toàn cầu của quốc gia, cần phải tiến hành một cách đồng bộ các giải pháp quyết liệt nhằm xây dựng một hệ thống quản lý chất thải rắn hiệu quả, có hiệu lực pháp lý mạnh, trên cơ sở đó nâng cao ý thức cộng đồng trong ngăn ngừa, giảm thiểu, thu gom và phân loại nhựa thải, kết hợp với phát triển hệ thống các cơ sở phân loại và tái chế có đủ điều kiện và năng lực. Đặc biệt, cần hướng tới một giải pháp quản lý chất thải nhựa hiệu quả được nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển đang thực hiện là giảm thiểu, thậm chí cấm hẳn việc sử dụng thương mại các sản phẩm nhựa dùng 1 lần và hạn chế sử dụng bao bì nhựa sẽ là một giải pháp hiệu quả ở Việt Nam, góp phần giải quyết triệt để lượng nhựa thải không thu gom tái chế được. Đây là điều có thể thực hiện được ở Việt Nam trong tương lai gần nếu mỗi người trong chúng ta đều chung tay thực hiện trách nhiệm của mình ngay từ bây giờ.

Viện Khoa học và Công nghệ môi trường